Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >
LỊCH SỬ về bà Ngô Thị Ngọc Dao
Quang Thục Hoàng Thái Hậu tên là Ngô Thị Ngọc Dao , lúc nhỏ là Ngô Thị Ngọc Bích, người làng Đồng Bảng Huyện Yên Định – Tỉnh Thanh Hoá là con quan tướng họ Ngô, mẹ bà bà con quan thượng thư họ Phan. Thủa trẻ bà nổi tiếng hiền lành đức độ thông minh đẹp gái. Vì vậy khi đến tuổi trưởng thành bà được Vua Lê Thái Tôn chọn nạp làm cung phi nên Vua Lê Thái Tôn có nhiều vợ. Bà Ngô Thị Ngọc Dao con ông Lê Sát được phong Nguyên Phi, Bà Lê Thị Nhật Lệ con ông Lê Ngân được phong Huệ Phi, Bà Dương Thị Bí sinh được Nghi Dân, năm 1440 được phong là Hoàng Thái Tử chỉ được một năm thì bị phuế truất. Bà Lê Thị Mai lại sinh được Khắc Dương Bà Nguyễn Thị Anh sinh ra được Băng Cơ. Năm 1422 mới năm tuổi được phong là Hoàng Thái Tử sau nà lên ngôi làm vua gọi là Vua Lê Nhân Tông. Bà Anh nằm mơ thấy Ngọc Hoàng Thượng đế đậu thai vào bà Ngô Thị Ngọc Dao, bà sợ sau này con mình mất ngôi nên bà đã xúi dục vua giết chết Ngô Thị Ngọc Dao, hoặc phải đục thai. Nguyễn Thị Lộ nghe lời khuyên của Nguyễn Trải đã bảo với vua không nên làm chuyện thất đức ấy, sau đó lại được các quan đại thần trong triều đưa bà đi lánh nạn tại chùa Huy Văn Hà Nội ( gần đường Hàng Bột bây giờ) tại đây bà đã sinh ra một chàng trai đặt tên là Tư Thành còn có tên là Hoàng Tử Hiệu. Vốn là con nhà dòng dõi Tư Thành ngày càng tuấn tú thông minh kỳ lạ, mới 4 tuổi đã được mẹ dạy truyền miệng Tư Thành đã thuộc nhiều bài thơ, đến 8 tuổi đã làm được thơ văn rồi đã thành người hay chữ nhất trong vùng. Khi vua Lê Thái Tôn chết tại trại vãi với vụ án Lệ Chi Viên do đó cả nhà Nguyễn Trải bị chu di tam tộc, sau 12 ngày vua cha chết ngày 19/9/1422( tức ngày 8/8 năm Nhâm Tuất) thì Băng Cơ lên ngôi làm vua lúc đó mới 2 tuổi lấy hiệu là vua Nhân Tông, ông đã làm được vua 17 năm đến tháng 6 năm 1459 thì Nghi Dân cướp ngôi vua . Sau đó Nghi Dân bị triều đình xử tội, triều đình đã rước Tư Thành về tôn vinh lên ngôi làm vua lấy hiệu là Quang Thuận đến năm 1470 đổi tên là Hồng Đức rồi vua Lê Thánh Tông. Tư Thành lên ngôi làm vua đã tôn mẹ là Quang Thục Hoàng Thái Hậu và lập điện thờ hoa cho mẹ ở để cùng bàn việc nước. Ông đã trị vì được 38 năm từ 1459 – 1497 là một ông vua hiền, vừa thông minh. Sau 6 năm lên ngôi vua Lê Tư Thành đã minh oan cho Nguyễn Trải đã đưa con trai sống sót của Nguyễn Trải là nguyễn Anh Vũ lên làm tri huyện tức là sau 24 năm nguyễn Trải chết mới được minh oan. Năm 1470 giặc chiêm thành sang sâm lấn bờ cõi nước Đại Việt, trước tình hình đó nhà vua Lê Tư Thành đã ngự giá thân chinh đưa quân đi đánh giặc, Tư Thành đã mời mẹ đi cùng, phong cho mẹ là: ” Long nhương tướng quân” vì bà là người có tài mưu lược, chỉ trong một thời gian ngắn quân của Lê Tư Thành đã đánh bại giặc chiêm, đánh trận thành đồ bàn bắt được tường Trà Toàn. Đầu năm 1471 đoàn quân chiến thắng trở về Thăng Long theo kênh của nhà Lê, khi thuyền đến bến Thuý Giang thì bà Thái Hậu băng hà ( chết). Nên trong sử có một câu chử hán: ” Thích đáo quang chiêm xã, Thuý Giang Thái Hậu băng” mà bến Thuý Giang sau này gọi là bến cầu. Vì bến đó bắc cầu để đưa thi thể của bà dưới thuyền lên kí táng chôn cất tại ( Vườn anh Phan Đình Song hiện nay thộuc xứ Đồng Cần xã Quang Chiêm. Sau đó nhà vua đã ra chiếu chỉ cắt lấy 100 mẫu ruộng để lại điện bàn hầu là em ruột của Thái Hậu và 5 người ngoại Hoàng Thích Họ Phan để làm tự dân thờ cúng chăm sóc phần mộ của bà. Trải qua những biến động của lịch sử với thời gian con cháu của các tướng lĩnh Điện Bàn Hầu và 5 người họ Phan được cắt cử trông coi phần mộ ngày càng đông lên đã trở thành xóm, thành làng họ đã cùng người dân bản xứ chăm lo làm ăn xây dựng. Trang đồng Cần đã trở thành nhất thôn, nhất xã, nhất triện mà chủ yếu là con cháu ngoại Hoàng thích của vua Lê Thánh TôngThuộc dòng họ Phan. Ở đây về góc độ xã hội học còn lưu giữ các truyền thuyết dân gian và một số luật tục đời từ thời Lê đó là dăm Cột Ngựa, dăm Đồng Bái. Theo Nham Cảo trước đây hàng năm đến ngày 26/3 âm lịch ( bà mất 26/2 nhuận năm Tân Mão 1471) thì các tướng lĩnh trong triều về làm lễ cột ngựa , rồi vào bái lạy. Về luật tục dân làng ở đây khi sinh con ra không được gọi bằng mẹ ( vì đền làng thờ đức mẹ) mà chỉ gọi bằng chị hoặc bằng mự. Cả làng tuyệt đối không ai được gọi cái Dao, mà chỉ gọi cái Đao. Để hiểu thêm về Trang Đồng Cần xin trích một đoạn bằng chữ Hán ghi trong phần di tích là: ” Chiết phủ Quang Chiêm xã điền thổ nhất bách Mởu lưu điện bàn Hỗu Thái Hậu chi đệ dự tôn Phan Thị Tôn Điệt quản canh lập từ phụng tự. Ngã Trung Phan tộc cái hiệu ư thủ”. Về giá trị lịch sử khoa học Hoàng Thái Hậu, Ngô Thị Ngọc Dao và con trai của bà là vua Lê Thánh Tông sống trong lịch sử việt nam cũng như dân gian hiện nay thì tên tuổi của mẹ con bàlà một điểm sáng không bao giờ phai nhạt, bởi bà là nghĩa, yêu nước, thương con có công lớn đánh giặc ngoại xâm là một người tài giỏi mưu lược đã cùng con trấn giữ biên cương. Phải nói rằng trong những bước thăng trầm của lịch sủ người phụ nữ Vệt Nam không bao giờ vắng bóng. Những tấm gương cao cả vì nước quên thân trong bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ còn thù trong giặc ngoài mà còn có một bà mẹ đã cùng con đưa lại nền thái bình cho trăm họ như bà Ngô Thị Ngọc Dao thì không phải là nhiều, đó là biểu tượng cao cả của người phụ nữ Việt Nam. Có thể nói rằng những năm 1471 khi đất nước khải hoàn trăm họ chung vui một mối, đất nước được chấn hương nên nhiều mặt kinh tế chính trị phát triển biết bao thành quả của nhà Lê đã đạt được, chúng ta không thể không nhắc đến một vị vua đã cùng mẹ kề vai gánh vác cả giang sơn đưa lại sự ấm no hạnh phúc cho muôn dân đó là vua Lê Thánh Tông, một vị vua một con người đã đóng góp cả sức lực trí tuệ cho đất nước. Do vậy Bác Hồ đã có câu thơ ” Vua hiền có Lê Thánh Tông mở mang bờ cõi lại khôn lại lành”. Ngoài ý nghĩa và giá trị đánh đuổi giặc ngoại xâm vua Lê Thánh Tông còn là người đức độ tài cao đã đóng góp to lớn trong việc chấn hưng nền kinh tế văn hoá, chính trị cho đất nước lúc bấy giờ. Đặc biệt là bộ luật Hồng đức đây là một sự đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc mà suốt cả thời kì đại phong kiến Việt Nam chưa bao giờ có được, cho tới nay về góc độ lịch sử xã hội học thì bộ luật Hồng đức là một công trình khoa học có giá trị cho cả dân tộc trong suốt thời gian dài. Di tích lịch sử đền thờ làng Trang Cần là nơi tưởng niệm một vị Hoàng Hậu một người mẹ Việt Nam đã có công cống hiến trọn đời cho sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm mở mang bờ cõi đưa lại nền thái bình cho muôn dân trăm họ đó là bà ” Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị ngọc Dao”. Sau khi ôn lại sự kiện lịch sử này mỗi chúng ta càng thêm phấn khởi tự hào và biết ơn sâu sắc bà Quang Thục Hoàng Thái Hậu đã để lại cho muôn đời con cháu làng Trang Cần những giá trị đánh đuổi giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi, đưa lại sự ấm no hạnh phúc cho muôn dân thật là to lớn.
Nguyễn Thị Xuân Minh @ 09:02 25/04/2009
Số lượt xem: 5034
Nguyễn Thị Xuân Minh @ 09:02 25/04/2009
Số lượt xem: 5034
Số lượt thích:
0 người
 
- Bài ca giáo viên Trường Bình Thịnh (21/04/09)
- Di tích Lịch sử văn hóa đền Thái Yên (01/03/09)
- Hội đồng giáo viên (27/02/09)

Các ý kiến mới nhất