Cuộc đời Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, thì Ngô Thị Ngọc Dao (吳氏玉瑤), người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa (nay là xã Định Hoà, huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hóa)[1]. Ông nội bà tên Ngô Kinh, là gia thần của Lê Khoáng (cha Lê Thái Tổ), về sau được phong Thái phó. Cha bà tên Ngô Từ, là gia thần của Lê Thái Tổ, được phong Thái bảo, vì có công cung cấp quân lương, ngay trong những ngày đầu kháng Minh.
[sửa] Làm vợ vua
Nhờ có người chị tên Xuân, là cung tần của Lê Thái Tông (1423-1442), nên bà Ngô Thị Ngọc Dao có dịp theo chị vào hậu cung chơi. Nhà vua trông thấy, liền tuyển bà làm cung tần.
Năm Canh Thân (1440), bà được phong làm Tiệp dư, ở cung Khánh Phương. Trước đây, Lê Thái Tông đã có 2 bà phi là Lê Ngọc Dao (con Đại tư đồ Lê Sát) và Lê Thị Lệ (con Tư khấu Lê Ngân). Khi Lê Sát và Lê Ngân bị xử tội năm 1437, hai người bị phế. Lê Ngọc Dao xuống làm dân thường còn Lê Thị Lệ xuống làm Tu dung. Sau đó Thái Tông sủng ái bà phi Dương Thị Bí và sinh ra con trưởng là Lê Nghi Dân năm 1439. Năm 1440, Thái Tông bắt đầu sủng ái Nguyễn Thị Anh và lấy cớ Dương Thị Bí kiêu ngạo nên truất làm Minh nghi. Năm sau một người con trai thứ hai là Lê Khắc Xương ra đời, nhưng mẹ cũng không được vua yêu. Cùng năm đó Nguyễn Thị Anh sinh được Lê Bang Cơ (1441-1459), Thái Tông liền truất Lê Nghi Dân, con của Dương Thị Bí, khi ấy mới 2 tuổi, làm Lạng Sơn vương và lập Bang Cơ làm Thái tử.
[sửa] Bị khép tội
Khi nghe Ngô Thị Ngọc Dao có thai, Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế, nên đã vu khống Ngọc Giao và xin Thái Tôn khép tội voi giày, nhưng nhà vua chỉ khép vào tội phát lưu (đày đi xa). Biết chuyện, Nguyễn Trãi bàn với vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ, lúc này đang làm Lễ nghi học sĩ, vào xin vua cho đổi sang án giam, và được vua chấp thuận. Nhờ vậy, mà Ngọc Dao chỉ bị giam ở chùa Huy Văn (nay là chùa Dục Khánh), ngõ Văn Chương[2], trong kinh thành Thăng Long.
Ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), Ngô Thị Ngọc Dao sinh ra Lê Tư Thành (tức Lê Thánh Tông, 1442-1479) tại chùa này, rồi cũng vì sợ Nguyễn Thị Anh tiếp tục ám hại, Nguyễn Trãi cho người đưa mẹ con bà trốn biệt ra trấn An Bang (Quảng Yên, nay là một phần của Quảng Ninh).
Ngày 4 tháng 8 cùng năm trên, vua Thái Tông chết đột ngột ở vườn Lệ Chi, tục gọi là Trại Vải, ở làng Đại Lại, nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Mấy ngày sau (ngày 12 tháng 8), Thái tử Bang Cơ lên ngôi (tức vua Lê Nhân Tông), Nguyễn Thị Anh trở thành Thái hậu nhiếp chính. Ngày 16 tháng 8 năm 1442, Nguyễn Trãi bị triều đình do bà Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc)...[3],
[sửa] Được phục vị
Đến năm Tư Thành được bốn tuổi, theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì “Tuyên Từ thái hậu (Nguyễn Thị Anh) mới ăn năn cho người tìm đi rước mẹ con bà Ngọc Dao về Kinh, phục vị cũ cho bà là Tiệp Dư, và phong cho Tư Thành làm Bình Nguyên vương, sau đổi làm Gia vương”[4].
Ngày 3 tháng 10 năm 1459, Lê Nghi Dân cùng các thủ hạ tin cậy đem hơn trăm quân vào cung cấm giết chết Lê Nhân Tông, và hôm sau, giết luôn Thái hậu Nguyễn Thị Anh. Nghi Dân lên ngôi, Tư Thành không bị vua anh sát hại, mà phải cải phong làm Cung vương.
Chín tháng sau, một cuộc đảo chính thứ hai do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu đã giết chết Lê Nghi Dân. Ngày 8 tháng 6, năm Canh Thìn 1460, do đề nghị của hai danh tướng trên, Lê Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông, và Ngô Thị Ngọc Dao trở thành Quang Thục Hoàng thái hậu.
[sửa] Mất
Nơi mất và năm mất của Ngô Thị Ngọc Dao, hiện nay có hai nhóm tài liệu chứa đựng những thông tin rất khác nhau.
- Nhóm thứ nhất, gồm các thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ thực lục, quyển 13), Đại Việt thông sử (Hậu phi truyện), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 24) và gần đây hơn là quyển Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 472)...Tất cả đều cho rằng bà mất vào ngày 26 tháng 2 (nhuận) năm Bính Thìn (1496), thọ 75 tuổi.
Riêng Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ Thái hậu Ngọc Dao mất vào giờ Hợi, tức khoảng 21 giờ đến 23 giờ tối, vì bị cảm nặng sau khi về bái yết Lam Kinh (Thanh Hóa). Còn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt thông sử thì chép bà mất vì bệnh kiết lỵ Về nơi mất, nhóm sách này đều viết bà mất ở điện Thừa Hoa, tức nơi ở của bà ở kinh đô Thăng Long.
- Nhóm thứ hai, gồm 25 đạo sắc phong, gia phả họ Phan hiện còn lưu giữ ở xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Tất cả đều ghi Thái hậu Ngọc Dao mất ngày 25 tháng 3 năm Tân Mão (1471), khi mới 50 tuổi.
Sau khi công bố thông tin trên, GS. Thuần cho biết:
Theo lời kể của người dân địa phương, thì vào năm 1471, sau khi cùng con là Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, về dọc đường, bị lâm bệnh nặng và mất tại cửa Sót (nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Nhà vua đành phải mai táng mẹ tại trang Đồng Cần, xã Quang Chiêm (nay thuộc xã Đức Thịnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Chẳng bao lâu sau, vua sai người chọn đất, cải táng hài cốt của bà về vị trí cũng gần đó. Trước khi trở về Thăng Long, vua Lê còn cấp trăm công đất cho cậu ruột (em Thái hậu Ngọc Dao) cùng năm người họ Phan, vốn là bà con bên ngoại của Thái hậu, ở lại canh tác, lấy hoa lợi, lo việc tế tự và trông coi mộ phần. Kể từ đó, ở trang Đồng Cần mới có một chi họ Phan, mà nguồn gốc ở Thanh Hóa. Người dân ở trang Đồng Cần còn khẳng định rằng: Sát bên cạnh đền thờ[5], có một ngôi mộ cổ. Đấy mới thật là mộ của Thái hậu Ngọc Dao.
Vì sao có sự khác biệt này, phải chờ các nhà sử học nghiên cứu thêm.
Đinh Xuân Đông @ 21:17 30/01/2012
Số lượt xem: 3537
- Giới thiệu khái quát về Hà Tĩnh (21/12/09)
- Ngô Đức Kế (29/04/09)
- Đền thờ Hoàng Hậu Bạch Ngọc (28/04/09)
- Nguyễn Biểu (28/04/09)
- Lê Bôi (25/04/09)

hay quá